Vị Ngọt Thốt Nốt An Giang
--------------------------------------------------------------------------------
Cây thốt nốt gắn chặt với đời sống người Khơme Nam bộ. Tại An Giang, thốt nốt được trồng nhiều ở các phum sóc người Khơme thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Từ bông thốt nốt bà con làm nên đặc sản đường thốt nốt.
Thốt nốt thuộc họ cau dừa, tàu lá giống lá cọ nhưng rộng hơn và xòe ra như chiếc quạt, trái mọc thành chùm như quày dừa nhưng nhỏ hơn. Tuổi thọ thốt nốt rất cao, hàng trăm năm vẫn còn ra trái nhưng cây trồng khoảng 15 năm mới ra bông (thường được gọi là “lưỡi mèo”).
Khi trồng mới bằng hạt lấy từ trái thốt nốt, theo kinh nghiệm dân gian nếu trồng ngửa hạt (xoay khe hở của hạt lên trên) thì cho cây cái, nếu trồng úp hạt xuống thành cây đực. Bông cây đực cho nhiều nước trong khi bông cái có hàm lượng đường nhiều hơn.
Muốn lấy nước thốt nốt người ta chặt một cây tre gai già thật dài và thẳng, cứ mỗi nhánh để lại khoảng một gang tay rồi cột cố định vào thân cây thốt nốt để làm thang leo. Gặp cây quá cao người ta sẽ nối nhiều đoạn thang tre đến khi chạm ngọn. Khi lưỡi mèo ra dài là lúc cắt mạch để lấy nước. Để lấy được nhiều nước, người ta kẹp lưỡi mèo trong hai mảnh tre khoảng bảy ngày thì cắt mạch cách chót bông chừng 2cm. Nước mật từng giọt chảy ra được hứng vào ống tre (ngày nay được thay bằng vỏ chai nước suối hay bình nhựa) treo ngay bên dưới.
Hằng ngày đồng bào Khơme thường trèo cây thốt nốt để lấy nước hai lần vào sáng sớm và chiều tối. Nước thốt nốt phải nấu thành đường (thắng đường) trong vòng 24 giờ sau khi lấy vì để lâu hơn sẽ bị chua. Nhà nào cũng có thể nấu đường bằng cách đắp lò đất có ống thoát khói, nhiên liệu đốt lò là lá cây khô, trấu hay củi. Người ta đặt chảo gang hay đơn giản chỉ là một thau nhôm lớn lên bếp.
Nước thốt nốt sau khi lọc bớt tạp chất được đổ vào nấu đến khi sệt lại, để nguội rồi đổ vào khuôn bằng ống tre, vài giờ sau đường sẽ đặc quánh. Đường được trút ra cắt khoanh rồi dùng lá thốt nốt gói bên ngoài như gói bánh tét. Đường thốt nốt có màu trắng xanh là ngon nhất, ngọt dịu và thơm, để lâu được, màu vàng là đường cũ, mau chảy.
Bông thốt nốt có thể cho nước liên tục 3-4 tháng rồi ngừng. Sau đó cây sẽ ra bông mới, cứ như vậy thời gian khai thác có khi đến vài chục năm.
St.angiang.
Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009
KẸO MẠCH NHA
Keọ Mạch Nha Xứ Quảng
--------------------------------------------------------------------------------
Mạch nha có tiếng ngon là mạch nha Mộ Đức, làng Thi Phổ, gần thị trấn Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Mạch nha ở một số vùng khác nhất là ở Bến Tre, lại là nguyên liệu chính cho kẹo dừa đặc sản.
Làm mạch nha, chỉ cần hai nguyên liệu: nếp và mộng lúa già. Nếp phải lớn hạt, không lép, phơi thật khô. Mộng lúa phải già nắng. Lúa sàng cho thật sạch, ngâm nước qua đêm, rồi bỏ vào thùng, sau khi xả nước, ủ kín 4-5 hôm cho lúa đâm mộng thật đều.
Lấy mộng tốt đem phơi nắng cho khô, đem giã thành bột gọi là bột mầm. Nếp sau khi xôi cho vào chảo gang thật lớn, đổ nước sền sệt rồi bỏ thêm bột mầm vào khuấy đều và đun sôi. Cứ một nồi bảy xôi, thì bỏ vào 1 kg bột mầm khuấy đều như thế độ 12 giờ liền mới vớt ra, đổ vào chiếc bao, ép lấy tinh chất nếp, còn xác thì bỏ đi.
Lấy được tinh chất nếp còn phải đem "cô" lại mất 4-5 giờ nữa mới thành một chất dẻo, thơm thơm, ngọt thanh. Đó là mạch nha.
Mạch nha ngon hay dở, đặc hay lỏng, để lâu được hay không là do ở nghệ thuật nấu "cô". Mạch nha có mùi thơm dìu dịu, vị thanh thanh, trong mà không cần nấu với bột, ngọt mà không cần nấu với đường.
Bây giờ hay lúc nào, ai đã từng đến xứ Quảng, lúc trở về đều không quên mang theo những lon mạch nha, hình thức nhãn hiệu tuy đơn sơ nhưng kẹo trong, ngon, sản phẩm đặc biệt của một vùng.
--------------------------------------------------------------------------------
Mạch nha có tiếng ngon là mạch nha Mộ Đức, làng Thi Phổ, gần thị trấn Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Mạch nha ở một số vùng khác nhất là ở Bến Tre, lại là nguyên liệu chính cho kẹo dừa đặc sản.
Làm mạch nha, chỉ cần hai nguyên liệu: nếp và mộng lúa già. Nếp phải lớn hạt, không lép, phơi thật khô. Mộng lúa phải già nắng. Lúa sàng cho thật sạch, ngâm nước qua đêm, rồi bỏ vào thùng, sau khi xả nước, ủ kín 4-5 hôm cho lúa đâm mộng thật đều.
Lấy mộng tốt đem phơi nắng cho khô, đem giã thành bột gọi là bột mầm. Nếp sau khi xôi cho vào chảo gang thật lớn, đổ nước sền sệt rồi bỏ thêm bột mầm vào khuấy đều và đun sôi. Cứ một nồi bảy xôi, thì bỏ vào 1 kg bột mầm khuấy đều như thế độ 12 giờ liền mới vớt ra, đổ vào chiếc bao, ép lấy tinh chất nếp, còn xác thì bỏ đi.
Lấy được tinh chất nếp còn phải đem "cô" lại mất 4-5 giờ nữa mới thành một chất dẻo, thơm thơm, ngọt thanh. Đó là mạch nha.
Mạch nha ngon hay dở, đặc hay lỏng, để lâu được hay không là do ở nghệ thuật nấu "cô". Mạch nha có mùi thơm dìu dịu, vị thanh thanh, trong mà không cần nấu với bột, ngọt mà không cần nấu với đường.
Bây giờ hay lúc nào, ai đã từng đến xứ Quảng, lúc trở về đều không quên mang theo những lon mạch nha, hình thức nhãn hiệu tuy đơn sơ nhưng kẹo trong, ngon, sản phẩm đặc biệt của một vùng.
Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009
Người vợ tù

NGƯỜI VỢ TÙ
Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất một nét đời đã qua nhưng khó quên của mỗi chi em chúng ta, khi có chồng, có con bị tập trung trong trai cải tao. Ý Cơ đã viết lại theo lời kể của nhân vật chính, ví thế chữ tôi được dùng trong chuyện kể, không phải là tác gỉa bài viết, rồi vẫn giữ nguyên danh tánh của hai nhân vật. (Nhân vật tên Chung trong chuyện kể này là Trung Úy Trương Kim Chung, giảng viên Tâm Lý Chiến và Xã Hội Học Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat)
Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam, của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.
Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.
Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn, khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.
Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.
Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp, vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.
Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi, Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi, vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết đinh như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh giành cho mẹ con tôi.. ... .. Đó, chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.
Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..
Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.
Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ chiến thắng lường gạt một cách một cách hèn hạ.
Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng, nay không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.
Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.
Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.
Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền nam, vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.
Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.
Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng, đa số chi em chúng ta, đang chiếm lòng lề đường, và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ngụy.
Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..
Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh, trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi. Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung, vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên ấy, có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống,
Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng, vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.
Nhưng còn chồng tôi đâu? đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ vế gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.
Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.
Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không? Một người bạn đưa tin về, mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.
Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.
Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.
Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết điạ điêm của trại tù này.. .. Nhưng cuối cùng họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ gìanh cho tôi lúc đó.
Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng cuả Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu, vì mỗi khi gió thôi tạt vào, thì tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.
Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm, Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. .. nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.
Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. .. chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.
Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện, khi biết rằng vợ con Anh còn sống?
Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay của cuộc đời vào lúc này.
Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.
Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.
Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. ... không kịp,.. .. không kịp?.. .. tôi không dám nghĩ tiếp.
Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.
Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trai, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn.. .. .. .. !
Vừa được tin anh ở trai này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gơi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói:”Bố sướng qúa, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. .. còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh, dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán ... .. .. .. tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua ngày chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng, nhưng qua hôm sau cán bộ ở trại họ cho biết, đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.
Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không? Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. .. Nhưng mệt qúa nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi chòang thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi, thôi, sinh dữ tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.
Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bưã, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng tóan đi lao động. Tôi như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng tôi, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. ... Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to: ”Anh Chung chết rồi”. Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.
Sau cơn chóang qúa đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh cuả tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.
Tôi được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng, ai cần gì thì lấy thức đó, rồi thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngòai một bộ bà ba đen đã bạc mầu.
Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như tóat ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người diù tôi đi.
Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về, kể chuyện đi thăm bố..
Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại”. Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bưã ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.
Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã dấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.
Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo”.. Nhưng khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.
Đến năm 1994 tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
Nay các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ, phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.
Em đã sống vì anh, thay anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng anh như thế, ”Hãy đợi em đến cùng anh”. Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế, để được xum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi bị gẫy sau 4 năm 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.
Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2009
Chuyện vui

Người đàn bà đứng trước gương ngắm nhìn và tỏ vẻ hài lòng vì chiếc áo
lông thú mới mua, thì cậu con trai đi học về.
- Đẹp quá, có phải bố mua cho mẹ cái áo này không?
- Bố nào mua, cứ chờ bố mày thì đến cả mày cũng chẳng có nữa là áo.
Tối nọ, hai vợ chồng ngồi dưới đèn đọc sách. Một con muỗi cứ vo ve xung
quanh ông chồng. Anh chàng này luôn giơ tay đập muỗi, vợ thấy vậy thì dè
bỉu: "Anh đúng là đồ dơ bẩn, không bao giờ chịu tắm rửa gì hết nên đến đâu
cuốn muỗi theo đến đó. Anh ngồi chỗ nào muỗi cũng toàn chích anh không".
Chồng cười: "Bởi vì con muỗi nó nhớ lời Khổng Tử đấy".
"Lời gì?"
"Đó là phải: gần quân tử, xa tiểu nhân!"
Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009
Chuyện vui
Đôi trai gái tâm sự:
- Anh yêu! Kiếp này duyên số mình không đặng, đành hẹn gặp lại anh ở kiếp sau vậy!
- Không được! Em có lấy anh thì phải lấy ngay bây giờ, chứ kiếp sau anh đã hẹn với người khác mất rồi.
Quan cai ngục: "Sao anh lai phải ở tù?"
Phạm nhân: "Hồi nhỏ cha thường dậy tôi rằng, khi lớn lên phải lấy người con gái thông minh tài sắc làm vợ. Sau này tôi đã làm theo đúng lời ông ấy nói."
Quan cai ngục: "Thế sao?"
Phạm nhân: "Tôi đã phạm phải tội trùng hôn."
Một thanh niên thấy một người đàn ông ôm bộ mặt bầm tím loạng choạng đi ngoài đường, anh ta ái ngại hỏi:
- Ông có cần tôi đưa về nhà không?
- Không đời nào! Tôi vừa chạy từ đó ra.
Một anh chàng hỏi người bạn mới cưới vợ:
- Cậu đã gặp vợ cậu trong hoàn cảnh như thế nào?
- À, hôm ấy trên tàu điện ngầm, cô ấy đứng cạnh tớ, tớ liền bất ngờ kêu lên "con chuột kìa" và cô ấy liền nhảy dựng lên cổ tớ. Thế là sau đấy vài tháng chúng tớ cưới nhau.
- Nhưng thực ra chẳng có con chuột nào chứ gì?- anh bạn tinh quái nháy mắt.
- Đúng vậy. Thế nhưng sau này tớ mới biết rằng cô ấy cũng chẳng hề sợ chuột!.
- Anh yêu! Kiếp này duyên số mình không đặng, đành hẹn gặp lại anh ở kiếp sau vậy!
- Không được! Em có lấy anh thì phải lấy ngay bây giờ, chứ kiếp sau anh đã hẹn với người khác mất rồi.
Quan cai ngục: "Sao anh lai phải ở tù?"
Phạm nhân: "Hồi nhỏ cha thường dậy tôi rằng, khi lớn lên phải lấy người con gái thông minh tài sắc làm vợ. Sau này tôi đã làm theo đúng lời ông ấy nói."
Quan cai ngục: "Thế sao?"
Phạm nhân: "Tôi đã phạm phải tội trùng hôn."
Một thanh niên thấy một người đàn ông ôm bộ mặt bầm tím loạng choạng đi ngoài đường, anh ta ái ngại hỏi:
- Ông có cần tôi đưa về nhà không?
- Không đời nào! Tôi vừa chạy từ đó ra.
Một anh chàng hỏi người bạn mới cưới vợ:
- Cậu đã gặp vợ cậu trong hoàn cảnh như thế nào?
- À, hôm ấy trên tàu điện ngầm, cô ấy đứng cạnh tớ, tớ liền bất ngờ kêu lên "con chuột kìa" và cô ấy liền nhảy dựng lên cổ tớ. Thế là sau đấy vài tháng chúng tớ cưới nhau.
- Nhưng thực ra chẳng có con chuột nào chứ gì?- anh bạn tinh quái nháy mắt.
- Đúng vậy. Thế nhưng sau này tớ mới biết rằng cô ấy cũng chẳng hề sợ chuột!.
Thứ Năm, 3 tháng 9, 2009
Thằng Rái cá (chuyện hay)
Nguời viết : Trần Quốc Bảo
Ở một vùng quê bên nước Anh, có gia đình nọ chuyên nghề làm vườn, gồm hai vợ chồng và đứa con trai duy nhất, vi hoàn cảnh quá nghèo, nên cậu con chưa học hết Tiểu học đã phải ở nhà giúp đỡ cha mẹ việc trồng tiả, hoặc đôi khi lên rừng lấy củi, kể cả việc câu cá ở một cái hồ lớn rất đẹp gần nhà, để thêm lương thực cho bữa ăn. Trong các việc làm phụ giúp cha mẹ, cậu bé thích nhất là đi câu, bởi vì mỗi buổi đi câu là mỗi lần được tắm, bơi thỏa thích. Cậu bơi tuyệt giỏi, đến mức bạn bè trong xóm gọi cậu là "thằng Rái Cá" (Otter boy).
Một hôm, khi "thằng Rái Cá" cắm xong mớ cần câu ở góc hồ, đang tính cởi áo nhào xuống nước bơi một tăng cho đã đời, thì nó thấy 3 chiếc xe limousine sang trọng trờ tới đậu ngay gần đó, nên nó khớp không tắm nữa, leo lên cây đại lăng ở cạnh hồ, núp mình trong tàng lá để canh chừng cần câu và cũng để ngắm nhìn toán du khách sang trọng.
Toán du khách đó, chính là một gia đình giầu có, quyền qúy, vào hàng đệ nhất Qúy Tộc của Vương Quốc Anh, họ từ Thủ Đô Luân Đôn đi du ngoạn miền quê, thăm dân cho biết sự tình. Dưới trời nắng đẹp, một cái tăng lớn được căng lên lộng lẫy, bàn ghế picnic bầy ra và thức ăn, cao lương mĩ vị dọn tràn đầy. Tiếng nhạc êm đềm réo rắt tỏa vang Rồi đoàn du khách nhập tiệc. Kẻ ăn, người uống, kẻ khiêu vũ, người chụp hình ...
Một lát sau, "thằng Rái cá" ngồi thu mình trên cành cây đại lăng, nhìn thấy một đứa trẻ trong đám du khách, chắc cũng 11, 12 tuổi, cỡ tuổi nó, thay đồ tắm và lội xuống hồ bơi qua bơi lại. Dường như những người lớn chăm chú vào việc ăn uống chuyện trò, không mấy ai để ý đến đứa trẻ ở dưới hồ. Riêng "thằng Rái Cá" nó tò mò quan sát đứa trẻ...
Ồ, coi kìa thằng này bơi gì dở ẹc! rõ ràng là nó không biết bơi ếch, bơi sải, bơi bướm gì cả, đến bơi ngửa chắc cu cậu cũng chẳng làm được. Nó chỉ đập loạn tay chân lên thôi, cái điệu bơi chó như thế là không khá được!
Chợt "thằng Rái Cá" nhoài mình ra chăm chú nhìn, nó thấy 2 con bạch thiên nga từ xa bơi tới phía đứa trẻ, và đứa trẻ chắc là thích con bạch thiên nga nên bơi theo, ... chết chưa ! nó bơi tuốt ra xa qúa rồi, chỗ đó rất sâu, nguy hiểm lắm! Đúng lúc đó, có tiếng thét cấp cứu của đứa trẻ "Help me! Help...Help! !!" Toán du khách khi ấy kịp nghe và nhìn thấy, nhưng thay vì phải nhào ra cứu đứa trẻ, thì họ ồn ào, nhốn nháo cả lên, hai ba người xuống hồ với cả áo quần, nhưng chỉ lội ra nước đến cổ thì đứng lại.
Trời đất! hóa ra chẳng ai biết bơi cả! mà ngoài xa đứa trẻ đuối sức có vẻ muốn chìm rồi!
Không đợi lâu hơn được nữa, từ trên cành cây cao, "thằng Rái cá" phóng xuống chạy bay ra hồ trước con mắt ngạc nhiên của tất cả đoàn du khách. Tới bờ cao, nó nhún mình lao xuống nước trong tư thế plunge tuyệt đẹp, và chỉ loáng mắt đã sải tay bơi tới chỗ đứa trẻ bị nạn, nó hụp lặn xuống xốc nách đứa trẻ và như một chuyên viên rescue lành nghề, nó nghiêng người bơi xoải từ từ vào bờ, trước sự chứng kiến xúc động và tràng pháo tay reo mừng của mọi người. Khi tới bờ, đứa trẻ bị nạn được nhiều người xúm lại khiêng lên đưa vào giữa tăng, và tại đó có sẵn một vị Bác Sĩ (trong toán du khách) lo việc cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, không khí an toàn tươi vui trở lại với mọi người trong toán du khách, đứa trẻ qua tai nạn hiểm nguy, bây giờ quấn mình trong chiếc mền len và đang được uống mấy muỗng soup. Lúc ấy người ta mới chợt nhớ tới vị Ân Nhân vừa cứu sống nó. - Ô hay, cái thằng bé con bơi giỏi hồi nãy đâu rồi nhỉ ? mọi người đổ xô đi tìm, lát sau phát giác ra chỗ ẩn của nó, "thằng Rái Cá" trèo lên ngồi yên chỗ cũ, trên cành cây đại lăng. Nó được gọi xuống và trịnh trọng đưa tới trình diện trước một vị Qúi Tộc, Ông này chính là cha của đứa trẻ vừa bị nạn.
- Hỡi con, (Vị Qúi Tộc nói với "thằng Rái Cá") con vừa làm một chuyện vĩ đại mà tất cả chúng ta đây không ai làm được, Ta xin thay mặt toàn thể cám ơn con.
- Bẩm Ông, ("thằng Rái Cá" lễ phép thưa) con có làm gì vĩ đại đâu! bơi lội là nghề của con mà... con cứu em là chuyện nhỏ, chuyện phải làm và cũng là chuyện thường đâu có gì khó khăn vĩ đại. Xin Ông đừng bận tâm !
- Không đâu con ơi ! con đã cứu mạng con trai Ta, gia đình Ta và Hội Đồng Qúi Tộc mãi mãi mang ơn con, nay ta muốn đền ơn con, vậy con muốn điều gì hãy nói cho Ta biết.
"Thằng Rái Cá" nghe hỏi vậy, ngập ngừng giây lát, rồi ngỏ ý muốn xin vài ổ mì dư thừa đem về cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo của nó đã khiến cho Vị Qúi Tộc và nhiều du khách cảm động rơi lệ. Vị Qúi Tộc ôm nó vào lòng và nói:
- Hỡi con, điều con vừa xin là chuyện nhỏ, và đó chính là bổn phận của Ta, Ta biết Ta sẽ phải làm gì cho con và gia đình con. Nhưng câu hỏi của Ta là sau này lớn lên con ước mơ sẽ làm gì ?
"Thằng Rái Cá" chỉ tay vào vị Bác Sĩ khi nãy cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ bị nạn, trả lời:
- Lớn lên, con muốn làm việc cứu người như ông kia.
- Ồ, con muốn làm Bác Sĩ, tốt lắm! với Ta đó cũng là chuyện nhỏ thôi, Ta sẽ giúp con.
Câu chuyện nhỏ trên đây, có phần kết luận không nhỏ mà thật là vĩ đại, bởi vì đứa trẻ bị chết đuối hụt, có tên là Winston Churchill, sau này là Vị Thủ Tướng đã làm rạng danh Nước Anh, một Vĩ Nhân cực kỳ tài giỏi lỗi lạc của Thế giới vào thời Đệ Nhị Thế Chiến.
- Còn "thằng Rái Cá", cậu bé đã cứu mạng Churchill tên là Fleming, sau này trở thành Vị Bác Sĩ tài ba lừng danh hoàn cầu, Fleming chính là Nhà Bác Học đã tìm ra Thuốc Trụ sinh Penicilin, cứu mạng biết bao nhiêu người trên thế giới, Ông đích thực là vị Ân Nhân Vĩ đại của cả nhân loại.
Từ khởi đầu, chuyện chỉ là một chuyện nhỏ, sự hi sinh, vị tha, sự cho đi rất nhỏ nhoi! nhưng nhờ đó, thành qủa sau này đem đến cho cả nhân loại đã vô cùng lớn lao kỳ vỹ.
Câu chuyện còn thêm cho phần kết luận điều lý thú nữa, là một ngày nọ Thủ Tướng Churchill bị lâm trọng bịnh, đến nỗi đã hôn mê, nhiều Bác Sĩ phải lắc đầu, tính mạng Ông ở vào lúc nguy kịch nhất, thì Fleming xuất hiện như một tiền duyên định mệnh, và vị Bác Sĩ tài ba này, đã lại một lần nữa cứu sống người Bạn cố tri của mình. Khi tỉnh dậy sau cơn mê, mở mắt ra nhìn thấy Fleming, Churchill ngạc nhiên xúc động và nói rằng:
- Fleming ! có phải cứ mỗi lần tôi sắp chìm, Chúa lại cho Bạn tới vớt tôi lên?
- Churchill, chúng ta hãy cám ơn Chúa ! nhưng không hẳn là tôi (Fleming giơ ra một viên thuốc nhỏ tí xíu) bởi cái này đây, chính cái này đã cứu bạn đó ... chuyên nhỏ mà!
Ở một vùng quê bên nước Anh, có gia đình nọ chuyên nghề làm vườn, gồm hai vợ chồng và đứa con trai duy nhất, vi hoàn cảnh quá nghèo, nên cậu con chưa học hết Tiểu học đã phải ở nhà giúp đỡ cha mẹ việc trồng tiả, hoặc đôi khi lên rừng lấy củi, kể cả việc câu cá ở một cái hồ lớn rất đẹp gần nhà, để thêm lương thực cho bữa ăn. Trong các việc làm phụ giúp cha mẹ, cậu bé thích nhất là đi câu, bởi vì mỗi buổi đi câu là mỗi lần được tắm, bơi thỏa thích. Cậu bơi tuyệt giỏi, đến mức bạn bè trong xóm gọi cậu là "thằng Rái Cá" (Otter boy).
Một hôm, khi "thằng Rái Cá" cắm xong mớ cần câu ở góc hồ, đang tính cởi áo nhào xuống nước bơi một tăng cho đã đời, thì nó thấy 3 chiếc xe limousine sang trọng trờ tới đậu ngay gần đó, nên nó khớp không tắm nữa, leo lên cây đại lăng ở cạnh hồ, núp mình trong tàng lá để canh chừng cần câu và cũng để ngắm nhìn toán du khách sang trọng.
Toán du khách đó, chính là một gia đình giầu có, quyền qúy, vào hàng đệ nhất Qúy Tộc của Vương Quốc Anh, họ từ Thủ Đô Luân Đôn đi du ngoạn miền quê, thăm dân cho biết sự tình. Dưới trời nắng đẹp, một cái tăng lớn được căng lên lộng lẫy, bàn ghế picnic bầy ra và thức ăn, cao lương mĩ vị dọn tràn đầy. Tiếng nhạc êm đềm réo rắt tỏa vang Rồi đoàn du khách nhập tiệc. Kẻ ăn, người uống, kẻ khiêu vũ, người chụp hình ...
Một lát sau, "thằng Rái cá" ngồi thu mình trên cành cây đại lăng, nhìn thấy một đứa trẻ trong đám du khách, chắc cũng 11, 12 tuổi, cỡ tuổi nó, thay đồ tắm và lội xuống hồ bơi qua bơi lại. Dường như những người lớn chăm chú vào việc ăn uống chuyện trò, không mấy ai để ý đến đứa trẻ ở dưới hồ. Riêng "thằng Rái Cá" nó tò mò quan sát đứa trẻ...
Ồ, coi kìa thằng này bơi gì dở ẹc! rõ ràng là nó không biết bơi ếch, bơi sải, bơi bướm gì cả, đến bơi ngửa chắc cu cậu cũng chẳng làm được. Nó chỉ đập loạn tay chân lên thôi, cái điệu bơi chó như thế là không khá được!
Chợt "thằng Rái Cá" nhoài mình ra chăm chú nhìn, nó thấy 2 con bạch thiên nga từ xa bơi tới phía đứa trẻ, và đứa trẻ chắc là thích con bạch thiên nga nên bơi theo, ... chết chưa ! nó bơi tuốt ra xa qúa rồi, chỗ đó rất sâu, nguy hiểm lắm! Đúng lúc đó, có tiếng thét cấp cứu của đứa trẻ "Help me! Help...Help! !!" Toán du khách khi ấy kịp nghe và nhìn thấy, nhưng thay vì phải nhào ra cứu đứa trẻ, thì họ ồn ào, nhốn nháo cả lên, hai ba người xuống hồ với cả áo quần, nhưng chỉ lội ra nước đến cổ thì đứng lại.
Trời đất! hóa ra chẳng ai biết bơi cả! mà ngoài xa đứa trẻ đuối sức có vẻ muốn chìm rồi!
Không đợi lâu hơn được nữa, từ trên cành cây cao, "thằng Rái cá" phóng xuống chạy bay ra hồ trước con mắt ngạc nhiên của tất cả đoàn du khách. Tới bờ cao, nó nhún mình lao xuống nước trong tư thế plunge tuyệt đẹp, và chỉ loáng mắt đã sải tay bơi tới chỗ đứa trẻ bị nạn, nó hụp lặn xuống xốc nách đứa trẻ và như một chuyên viên rescue lành nghề, nó nghiêng người bơi xoải từ từ vào bờ, trước sự chứng kiến xúc động và tràng pháo tay reo mừng của mọi người. Khi tới bờ, đứa trẻ bị nạn được nhiều người xúm lại khiêng lên đưa vào giữa tăng, và tại đó có sẵn một vị Bác Sĩ (trong toán du khách) lo việc cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, không khí an toàn tươi vui trở lại với mọi người trong toán du khách, đứa trẻ qua tai nạn hiểm nguy, bây giờ quấn mình trong chiếc mền len và đang được uống mấy muỗng soup. Lúc ấy người ta mới chợt nhớ tới vị Ân Nhân vừa cứu sống nó. - Ô hay, cái thằng bé con bơi giỏi hồi nãy đâu rồi nhỉ ? mọi người đổ xô đi tìm, lát sau phát giác ra chỗ ẩn của nó, "thằng Rái Cá" trèo lên ngồi yên chỗ cũ, trên cành cây đại lăng. Nó được gọi xuống và trịnh trọng đưa tới trình diện trước một vị Qúi Tộc, Ông này chính là cha của đứa trẻ vừa bị nạn.
- Hỡi con, (Vị Qúi Tộc nói với "thằng Rái Cá") con vừa làm một chuyện vĩ đại mà tất cả chúng ta đây không ai làm được, Ta xin thay mặt toàn thể cám ơn con.
- Bẩm Ông, ("thằng Rái Cá" lễ phép thưa) con có làm gì vĩ đại đâu! bơi lội là nghề của con mà... con cứu em là chuyện nhỏ, chuyện phải làm và cũng là chuyện thường đâu có gì khó khăn vĩ đại. Xin Ông đừng bận tâm !
- Không đâu con ơi ! con đã cứu mạng con trai Ta, gia đình Ta và Hội Đồng Qúi Tộc mãi mãi mang ơn con, nay ta muốn đền ơn con, vậy con muốn điều gì hãy nói cho Ta biết.
"Thằng Rái Cá" nghe hỏi vậy, ngập ngừng giây lát, rồi ngỏ ý muốn xin vài ổ mì dư thừa đem về cho cha mẹ. Lòng hiếu thảo của nó đã khiến cho Vị Qúi Tộc và nhiều du khách cảm động rơi lệ. Vị Qúi Tộc ôm nó vào lòng và nói:
- Hỡi con, điều con vừa xin là chuyện nhỏ, và đó chính là bổn phận của Ta, Ta biết Ta sẽ phải làm gì cho con và gia đình con. Nhưng câu hỏi của Ta là sau này lớn lên con ước mơ sẽ làm gì ?
"Thằng Rái Cá" chỉ tay vào vị Bác Sĩ khi nãy cấp cứu hồi sinh cho đứa trẻ bị nạn, trả lời:
- Lớn lên, con muốn làm việc cứu người như ông kia.
- Ồ, con muốn làm Bác Sĩ, tốt lắm! với Ta đó cũng là chuyện nhỏ thôi, Ta sẽ giúp con.
Câu chuyện nhỏ trên đây, có phần kết luận không nhỏ mà thật là vĩ đại, bởi vì đứa trẻ bị chết đuối hụt, có tên là Winston Churchill, sau này là Vị Thủ Tướng đã làm rạng danh Nước Anh, một Vĩ Nhân cực kỳ tài giỏi lỗi lạc của Thế giới vào thời Đệ Nhị Thế Chiến.
- Còn "thằng Rái Cá", cậu bé đã cứu mạng Churchill tên là Fleming, sau này trở thành Vị Bác Sĩ tài ba lừng danh hoàn cầu, Fleming chính là Nhà Bác Học đã tìm ra Thuốc Trụ sinh Penicilin, cứu mạng biết bao nhiêu người trên thế giới, Ông đích thực là vị Ân Nhân Vĩ đại của cả nhân loại.
Từ khởi đầu, chuyện chỉ là một chuyện nhỏ, sự hi sinh, vị tha, sự cho đi rất nhỏ nhoi! nhưng nhờ đó, thành qủa sau này đem đến cho cả nhân loại đã vô cùng lớn lao kỳ vỹ.
Câu chuyện còn thêm cho phần kết luận điều lý thú nữa, là một ngày nọ Thủ Tướng Churchill bị lâm trọng bịnh, đến nỗi đã hôn mê, nhiều Bác Sĩ phải lắc đầu, tính mạng Ông ở vào lúc nguy kịch nhất, thì Fleming xuất hiện như một tiền duyên định mệnh, và vị Bác Sĩ tài ba này, đã lại một lần nữa cứu sống người Bạn cố tri của mình. Khi tỉnh dậy sau cơn mê, mở mắt ra nhìn thấy Fleming, Churchill ngạc nhiên xúc động và nói rằng:
- Fleming ! có phải cứ mỗi lần tôi sắp chìm, Chúa lại cho Bạn tới vớt tôi lên?
- Churchill, chúng ta hãy cám ơn Chúa ! nhưng không hẳn là tôi (Fleming giơ ra một viên thuốc nhỏ tí xíu) bởi cái này đây, chính cái này đã cứu bạn đó ... chuyên nhỏ mà!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
